Xứ Sở Diệu Kỳ Tàn Bạo Và Chốn Tận Cùng Thế Giới – Tiềm thức và sự hư vô hoàn hảo

Đã lâu rồi tôi không còn đọc Haruki Murakami, trừ những truyện ngắn ít được chú ý hơn của ông. Tháng 6 năm nay tôi đọc lại Rừng Na Uy nhưng bằng phiên bản tiếng Anh. Tài nghệ dịch thuật của Jay Rubin không có gì phải bàn cãi, nhưng dù có cố đọc đến đâu tôi vẫn không có được cái cảm giác khi tôi đọc Rừng Na Uy phiên bản tiếng Việt 14 năm trước. Tôi biết rằng bản dịch tiếng Anh dù có trung thành và mượt mà đến đâu vẫn không thể thay thế được bản tiếng Việt, bởi chỉ khi đó tôi mới có được cảm giác đang tiếp cận trực tiếp với thế giới tinh thần của tác giả. Điều này áp dụng với mọi tác phẩm của Murakami và tất cả tác giả châu Á khác.

Trải nghiệm đọc Rừng Na Uy không được như ý, tôi quay lại với tác phẩm mà tôi thích nhất của ông – Xứ Sở Diệu Kỳ Tàn Bạo Và Chốn Tận Cùng Thế Giới, và tính luôn lần đọc và nghiền ngẫm này sẽ là lần thứ 4. Đây là tác phẩm duy nhất của ông mà tôi cảm thấy vẫn luôn cộng hưởng với mình bất chấp độ tuổi và thời điểm tôi đọc nó. Có lẽ là ở cái cảm giác siêu thực mà nó mang lại. Tôi cũng không rõ. Nhưng tôi biết đã đến lúc mình cần phải viết về quyển tiểu thuyết này. Trước khi bắt đầu, tôi xin trích dẫn một đoạn trong chương 2 – Bầy Thú Vàng, một trong những đoạn tiêu biểu cho yếu tố siêu thực khiến tôi phải đi qua hết hơn 600 trang:

“Khi tiếng tù và vang lên, bầy kỳ lân cất cao đầu theo một hoài niệm ngàn xưa. Cùng lúc, hơn một nghìn con vật đứng cùng một tư thế và ngoảnh đầu về phía tiếng tù và vẳng đến. Vài con ngừng nhai nhành kim tước, một con khác ngừng nện móng lên nền đá rải đường, một con khác nữa thức giấc ngủ chiều trong tia nắng cuối cùng – và tất cả cùng cất cao đầu.

Tất cả đứng im trong khoảnh khắc này. Chỉ có bộ lông vàng ròng của chúng khẽ lay động trong gió chiều. Không rõ chúng đang nghĩ gì và đang nhìn gì. Chúng quay đầu theo cùng một góc về một hướng, và trong khi đăm đăm nhìn lên không trung thì chúng đứng im phăng phắc như tượng. Rồi tất cả dỏng tai lắng nghe tiếng tù và. Rồi cuối cùng, khi dư âm cuối cùng tan dần trong ánh hoàng hôn nhạt nhoà thì tất cả đứng dậy và chạy về cùng một hướng, dường như vừa sực nhớ điều gì. Vòng kiềm toả đã vỡ, và cả thành phố vang dội tiếng móng đổ dồn. Lúc đó tôi luôn mường tượng ra vô vàn bong bóng tí xíu sùi lên từ nền đất. Lớp bọt ấy phủ lên đường sá, dâng lên dọc theo bờ tường nhà và sau rốt nhấn chìm cả tháp đồng hồ.”

(Ảnh: Goodreads)

Một hình thức tiểu thuyết mới

Đầu thập niên 1980, Haruki Murakami vẫn đang trong quá trình định hình văn phong sau hai tác phẩm khởi đầu Lắng Nghe Gió Hát và Pinball, 1973. Là người say mê văn học phương Tây, đặc biệt là tiểu thuyết trinh thám kiểu Mỹ, văn phong hard-boiled, yếu tố khoa học viễn tưởng và siêu thực đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các tác phẩm của Murakami sau này, mà điển hình nhất chính là Xứ Sở Diệu Kỳ Tàn Bạo Và Chốn Tận Cùng Thế Giới.

Tiểu thuyết được ra mắt tại Nhật Bản vào tháng 6 năm 1985, khi Murakami ở tuổi 36. Tác phẩm xuất sắc đoạt giải thưởng Tanizaki cùng năm, khẳng định vị thế của ông như một trong những văn phong độc đáo nhất thời đại.

Không chỉ dừng lại ở cốt truyện ly kỳ, cuốn tiểu thuyết sở hữu cấu trúc nghệ thuật phức tạp với yếu tố siêu thực vô cùng đậm đặc, mang lại trải nghiệm mới lạ cho độc giả, khảo sát những tầng sâu nhất của ý thức con người, đồng thời phảng phất những nét tư tưởng của triết học hiện sinh. Ngay cả bối cảnh ra đời của tác phẩm này cũng khiến tôi càng muốn tìm hiểu sâu hơn về nó. Xứ Sở Diệu Kỳ Tàn Bạo Và Chốn Tận Cùng Thế Giới ra đời từ một ý tưởng mà chính Murakami từng thử viết nhưng cảm thấy mình chưa đủ khả năng thể hiện.

Năm 1980, Murakami viết một truyện ngắn có tên The Town and Its Uncertain Wall (Thị Trấn Và Những Bức Tường Bất Định – mãi đến năm 2023 mới được xuất bản). Lúc bấy giờ, ông kể rằng trong tác phẩm ấy đã có hình ảnh một thị trấn được bao quanh bởi bức tường cao và một thư viện. Ông cảm thấy ý tưởng này chứa đựng điều gì đó rất quan trọng, dù khi ấy chưa thể viết nó thành hình thức mà mình mong muốn. Khoảng năm, sáu năm sau, ông phát triển ý tưởng ấy thành một phần của cuốn tiểu thuyết năm 1985.

Một điều quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến tác phẩm này cần được lưu ý, đó chính là Murakami tin vào vai trò của tiềm thức trong sáng tạo. Trong cuộc phỏng vấn với tạp chí BOMB vào năm 1994, ông nói rằng mình không muốn lên kế hoạch quá cứng nhắc, bởi những điều quan trọng nhất trong quá trình sáng tác có thể xuất phát từ những tầng sâu mà nhà văn chưa ý thức được đầy đủ. Đó là lý do vì sao khi viết tác phẩm này, ông không xây dựng toàn bộ cấu trúc hai thế giới ngay từ ban đầu, mà bắt đầu bằng những hình ảnh và câu chuyện, rồi để ý nghĩa dần hình thành từ sự va chạm giữa chúng.

Murakami đã viết khoảng ba hoặc bốn chương đầu, sau đó nhận ra mình cần một thứ gì đó hoàn toàn khác. Vì vậy, ông đặt câu chuyện ấy bên cạnh một câu chuyện khác, với niềm tin rằng cuối cùng hai tuyến sẽ gặp nhau, dù lúc đó ông chưa thể giải thích rõ vì sao chúng phải kết hợp.

Tuyến thứ nhất (Xứ sở diệu kỳ) lấy bối cảnh ở một đô thị hiện đại với những bí mật công nghệ, các tổ chức đối đầu và một nhân vật làm nghề toán sư bị cuốn vào cuộc truy đuổi. Đây là phần mang nhịp điệu của tiểu thuyết trinh thám và phiêu lưu. Những sự kiện kỳ quái, phi lý được kể bằng giọng điệu lạnh lùng và bình thản của dòng văn hard-boiled. Tuyến thứ hai (Chốn tận cùng thế giới) là một thế giới của trí tưởng tượng – một thành phố khép kín được bao quanh bởi bức tường, với thư viện, những giấc mơ và sự tách biệt khỏi thế giới bên ngoài. Đây là phần mang tính siêu thực, tĩnh lặng và hướng vào bên trong. Những điều phi thực tại được miêu tả tự nhiên như một phần sinh hoạt thường nhật.

Hai thế giới dường như đối lập nhau nhưng lại có một mối liên hệ nội tại. Và việc để cho tiềm thức được trôi tự do trong quá trình sáng tác là lý do khiến tác phẩm có cảm giác vừa được kiến tạo rất chặt chẽ, vừa giống như một giấc mơ tự vận hành. Hai tuyến truyện không chỉ bổ sung thông tin cho nhau mà còn giúp chúng ta trải nghiệm sự phân đôi của ý thức ngay trong quá trình đọc. Ta liên tục di chuyển giữa một thế giới hỗn loạn, bạo lực và một thế giới yên tĩnh, siêu thực. Dần dần, ranh giới giữa hai thế giới không còn đơn thuần là ranh giới giữa hai địa điểm và những nhân vật tách biệt. Càng về sau, tất cả yếu tố và nhân vật giao thoa với nhau nhưng vẫn bị phân tách bởi lằn ranh giữa ý thức và thực tại – như hình ảnh được phản chiếu qua một tấm gương. Cấu trúc của cuốn tiểu thuyết trở thành một phần của ý nghĩa mà nó muốn truyền tải. Theo tôi, đây là một trong những thành tựu đáng kể nhất của Murakami.

Ký ức và chiếc bóng – Nguyên mẫu theo góc nhìn Carl Jung

Tôi nghĩ rằng yếu tố triết học hiện sinh trong hầu hết các tác phẩm của Murakami đã được nhắc đến rất nhiều. Do đó, tôi chỉ đi sâu vào khía cạnh tâm lý học – cũng là điều thu hút tôi nhất bên cạnh yếu tố siêu thực trong tiểu thuyết này. Những ai đã từng tìm hiểu tâm lý học chắc hẳn sẽ dễ dàng nhận ra các nguyên mẫu (archetype) của Carl Jung trong tác phẩm.

Chiếc bóng (the shadow) ở tuyến truyện Chốn tận cùng thế giới là hình ảnh giàu tính ẩn dụ nhất trong Xứ Sở Diệu Kỳ Tàn Bạo Và Chốn Tận Cùng Thế Giới. Dưới góc độ tâm lý học của Carl Jung, “Shadow” là phần bản ngã bị đẩy vào tiềm thức. Nó đại diện cho những khía cạnh trong nhân cách mà một người không muốn thừa nhận, cố gắng kìm nén hoặc chối bỏ vì chúng đi ngược lại với chuẩn mực xã hội hoặc hình ảnh mà họ muốn xây dựng. Nó là nơi chứa đựng những khao khát dồn nén, nỗi đau, vết thương, nỗi sợ hãi, nhưng cũng đồng thời là nguồn gốc của sức sống, tính sáng tạo và cảm xúc nguyên bản của con người.

Trong tác phẩm của Murakami, ngay khi bước qua cổng thành phố, mọi cư dân đều phải trải qua nghi thức bắt buộc: người gác cổng dùng dao cách ly chiếc bóng khỏi cơ thể họ. Chiếc bóng sau khi bị cắt tách không lập tức biến mất mà bị giam giữ tại sân cắt bóng. Nó có hình dáng, có tri giác và khả năng giao tiếp, nhưng ngày càng suy yếu, mất dần sức sống và dự kiến sẽ chết khi mùa đông khắc nghiệt tràn về. Chiếc bóng trong truyện chính là kho lưu trữ ký ức và toàn bộ phần tâm hồn của nhân vật. Việc cắt đứt chiếc bóng thể hiện nỗ lực gọt giũa và đè nén phần bản ngã nguyên sơ để đạt được sự hòa nhập tuyệt đối với cộng đồng. Không có chiếc bóng, cư dân trong thành phố trở nên hiền hòa, không còn giằng xé, không xung đột hay ganh ghét, nhưng họ dần dần trở thành những thực thể rỗng tuếch, mất đi khả năng yêu thương hay sáng tạo và mãi mãi phải ở lại nơi này – một thành phố hoàn hảo, nhưng hoàn hảo một cách hư vô.

Nhiệm vụ chính của nhân vật xưng “Tôi” ở Chốn tận cùng thế giới là trở thành một người đọc mơ tại thư viện. Mỗi ngày, nhân vật chính đến thư viện, chạm tay vào những chiếc đầu lâu của thú một sừng. Bên trong những chiếc đầu lâu là các giấc mơ xưa đã bị trám kín lại. Công việc của anh là hút hết những mảnh ký ức dư thừa còn sót lại ra khỏi chúng để tiêu hủy hoàn toàn. Những chiếc đầu lâu đại diện cho phần di sản ký ức tập thể và tiềm thức bị hóa thạch. Giấc mơ, theo Jung, chính là tiếng nói của tiềm thức. Việc nhân vật phải “đọc” và làm phân rã các giấc mơ chính là quá trình giải phóng/tiêu biến những tàn tích cảm xúc cuối cùng, đảm bảo rằng tâm trí con người hoàn toàn sạch bóng những dao động quá khứ – không còn trăn trở, sự ngờ vực, cảm xúc thương yêu hay nỗi đau. Tất cả biến mất trong nháy mắt và trở nên vô nghĩa.

Xuyên suốt câu chuyện, cuộc gặp gỡ bí mật giữa nhân vật “Tôi” và chiếc bóng là cuộc đấu tranh tư tưởng giằng xé nhất về mặt hiện sinh. Chiếc bóng liên tục cảnh báo nhân vật chính về sự nguy hiểm của thành phố.

“Nó bất thường và trái khoáy. Nhưng vấn đề ở chỗ nó hoàn hảo trong sự bất thường và trái khoáy ấy. Vì tất cả đều bất thường và trái khoáy nên rốt cuộc tất cả có sự hài hoà nội tại… Thành phố khép kín, như vòng tròn này. Vì thế càng ở lâu trong đó và suy đi nghĩ lại thì người ta sẽ cảm thấy mọi thứ đều bình thường. Cậu sẽ bắt đầu ngờ vực trí phán đoán của mình. Chính vì mọi thứ quá hài hoà và hoàn hảo.”

“Người dân thành phố này đã trả giá cho sự hoàn hảo đó bằng tâm hồn mình. Và khi đã mất tâm hồn rồi, họ ở trong một tuyến thời gian được nối dài vô tận. Vì thế mà không ai già đi, vì thế mà không ai chết.”

“Nhưng: không có đấu tranh, căm ghét và thèm muốn thì cũng không có đối trọng của chúng – nghĩa là không có niềm vui, không có hạnh phúc, không có tình yêu. Chính vì có thất vọng, phiền muộn và buồn thảm mà sinh ra niềm vui. Không có thất vọng thì cũng không có hạnh phúc.”

Chiếc bóng hối thúc “Tôi” lập kế hoạch bỏ trốn qua bờ hồ phía Nam trước khi mùa đông hoàn toàn hút cạn sức sống của nó. Đây là hình ảnh phản chiếu sự thức tỉnh của Ý thức (Ego) khi nhận ra tác hại của việc chối bỏ Chiếc bóng (Shadow). Nếu Ý thức từ chối tích hợp Chiếc bóng, con người sẽ rơi vào trạng thái tê liệt cảm xúc. Cuộc đối thoại này nêu bật mệnh đề: Tổn thương và đau khổ là cái giá bắt buộc phải trả cho một đời sống tinh thần đích thực.

Trái ngược với motif giải thoát thông thường (trốn chạy khỏi thị trấn), đoạn kết của Xứ Sở Diệu Kỳ Tàn Bạo Và Chốn Tận Cùng Thế Giới rẽ sang một hướng đậm tính triết học. Tuy vậy, với những độc giả trung thành của Murakami, tôi nghĩ rằng kết thúc này không quá bất ngờ. Khi đã giúp chiếc bóng nhảy xuống bờ hồ để thoát ra thế giới bên ngoài, nhân vật “Tôi” quyết định ở lại. Anh nhận ra thành phố này không phải một nơi nào xa lạ, mà chính là vùng không gian tiềm thức do chính bộ não anh tạo ra để trú ẩn. Anh nói với chiếc bóng rằng mình phải ở lại để chịu trách nhiệm với thế giới nội tâm này, với những gì mà anh đã tạo ra – bức tường, dòng sông, khu rừng, thư viện, cổng thành, mùa đông, tất cả, và tìm cách khôi phục lại “tâm hồn” cho nó. Lựa chọn ở lại không phải là sự gục ngã hay đầu hàng, mà là hành động tích hợp Shadow vào Ego (Individuation Process – Quá trình cá nhân hóa). Nhân vật chấp nhận đối mặt với vùng tối, nỗi cô đơn và tiềm thức của chính mình thay vì chối bỏ hay vay mượn một thực tại khác. Anh hiểu rằng: Dù thế giới nội tâm ấy có tan vỡ hay tàn bạo, đó vẫn là thế giới duy nhất thuộc về anh. Anh không còn nơi nào để đi đến hay để trở về. Đây là nơi thế giới trút hơi thở cuối cùng và đứng im. Và thế giới này – nơi có cái tĩnh lặng tuyệt đối này, hoàn toàn thuộc về anh, và cũng là điều mà anh luôn tìm kiếm.

Dĩ nhiên, mỗi người sẽ có cách diễn giải khác nhau cho tác phẩm đa tầng này. Khả năng dung chứa mọi cách diễn giải của nó cũng là điều khiến tôi phải đọc đi đọc lại, và qua mỗi lần đọc, ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời, tôi lại đúc kết được những ý nghĩa mới. Và thậm chí nếu như ai đó đọc tác phẩm này và không hiểu gì, hoàn toàn không có vấn đề gì. Chẳng phải hầu hết các tác phẩm siêu thực đều như vậy sao? Một tác phẩm văn học sẽ trở thành tấm gương phản chiếu thế giới nội tâm của người đọc khi thời điểm thích hợp đến. Và tôi tin rằng khi bạn đã đi qua và nhìn thấu đủ nhiều, thời khắc ấy sẽ đến.