[Dịch truyện] Tấm Giấy Dán Tường MÀU Vàng (The Yellow Wallpaper) – Charlotte Perkins Gilman

Xuất bản năm 1892, The Yellow Wallpaper của Charlotte Perkins Gilman là tác phẩm tiêu biểu kết hợp hài hoà giữa tư tưởng nữ quyền và yếu tố kinh dị tâm lý. Tác phẩm xoay quanh một người phụ nữ rơi vào tình trạng “suy nhược thần kinh” (hoặc trầm cảm sau sinh). Để điều trị, người chồng vốn là một bác sĩ đã đưa cô đến một căn biệt thự biệt lập và giam lỏng cô trong căn phòng áp mái, trước kia vốn là phòng dành cho trẻ nhỏ, áp dụng nghiêm ngặt “liệu pháp nghỉ ngơi”. Bị tước đoạt quyền làm việc, viết lách và cách ly khỏi mọi kích thích tinh thần, cô chỉ còn biết lén lút trút bầu tâm sự vào cuốn nhật ký bí mật. Trong sự cô độc tột cùng, cô dần bị ám ảnh bởi những đường nét kỳ quái trên tấm giấy dán tường màu vàng, để rồi cuối cùng hoàn toàn rơi vào trạng thái loạn thần khi tin rằng có một người phụ nữ đang bị giam cầm phía sau những hoa văn ấy.

Tranh minh hoạ: Alex E Clark

******

Hiếm khi nào những người bình thường như John và tôi lại có thể thuê được một dinh thự tổ tiên để nghỉ hè.

Một dinh thự thời thuộc địa, một điền trang truyền thừa, tôi có thể gọi đó là một ngôi nhà ma ám, và như thế là đạt đến đỉnh cao của niềm hạnh phúc lãng mạn, nhưng như vậy có lẽ là đòi hỏi quá nhiều ở số phận!

Dẫu vậy, tôi vẫn quả quyết rằng nơi này có điều gì đó kỳ quặc.

Nếu không thì tại sao người ta lại cho thuê nó với giá rẻ đến thế? Và tại sao nó đã bị bỏ hoang lâu như vậy?

Dĩ nhiên John cười nhạo tôi, nhưng trong hôn nhân thì người ta cũng phải quen với điều đó.

John là người thực tế đến mức cực đoan. Anh ấy không hề có chút kiên nhẫn nào với những điều thuộc về đức tin, vô cùng ghê sợ mê tín dị đoan, và công khai chế giễu bất kỳ câu chuyện nào về những thứ không thể cảm nhận bằng giác quan, không thể nhìn thấy, và không thể ghi lại bằng những con số.

John là một bác sĩ, và có lẽ – (tất nhiên tôi sẽ không bao giờ nói điều này với bất kỳ ai còn sống, nhưng đây chỉ là những trang giấy vô tri, và viết ra khiến lòng tôi nhẹ nhõm hơn rất nhiều) – có lẽ đó là một trong những lý do khiến tôi không khá lên nhanh hơn được.

Đấy bạn xem, anh ấy chẳng tin là tôi có bệnh!

Và người ta còn có thể làm gì được chứ?

Nếu một vị bác sĩ có tiếng tăm lẫy lừng, và lại chính là chồng mình, quả quyết với bạn bè và người thân rằng thực ra mình chẳng có bệnh tình gì nghiêm trọng ngoài chứng trầm cảm suy nhược thần kinh tạm thời – một chút xu hướng cuồng loạn nhẹ – thì người ta biết phải làm sao đây?

Anh trai tôi cũng là bác sĩ, cũng có tiếng tăm lẫy lừng, và anh ấy cũng nói y như vậy.

Thế là tôi uống phosphate hoặc phosphite gì đó – tôi cũng không chắc là loại nào, rồi uống thuốc bổ, đi du ngoạn, hít thở không khí trong lành, tập thể dục, đồng thời bị cấm tuyệt đối “làm việc” cho đến khi khỏi hẳn.

Về phần mình, tôi không đồng tình với quan điểm của họ.

Về phần mình, tôi tin rằng một công việc phù hợp với sở thích, mang lại chút hứng khởi và thay đổi, mới là điều tốt cho tôi.

Nhưng rốt cuộc thì người ta có thể làm gì đây?

Tôi đã từng lén viết trong một thời gian bất chấp lời họ can ngăn; nhưng điều đó khiến tôi hao tổn tâm sức khá nhiều, vì lúc nào cũng phải giấu giấu diếm diếm, bằng không sẽ vấp phải sự phản đối kịch liệt.

Đôi khi tôi chợt nghĩ, với tình trạng của mình, giá như tôi ít bị cấm đoán hơn, được tiếp xúc với xã hội và có nhiều kích thích tinh thần hơn, nhưng John bảo điều tệ hại nhất tôi có thể làm là cứ nghĩ về bệnh tình của mình, và tôi phải thừa nhận rằng mỗi khi nghĩ đến nó, tôi luôn cảm thấy tệ hơn.

Vậy nên tôi sẽ gác chuyện đó sang một bên và nói về ngôi nhà này.

Một nơi đẹp đẽ làm sao! Nó hoàn toàn biệt lập, nằm lùi sâu khỏi con đường lớn, cách ngôi làng đến gần ba dặm. Nơi này khiến tôi nhớ đến những dinh thự Anh quốc mà người ta thường đọc trong sách, bởi quanh đây có những hàng rào cây, những bức tường, những cánh cổng có thể khóa lại, cùng vô số ngôi nhà nhỏ riêng biệt dành cho người làm vườn và gia nhân.

Khu vườn đẹp mê hoặc! Tôi chưa từng thấy khu vườn nào đẹp như thế – rộng lớn, rợp bóng râm, đầy những lối đi được viền bằng bụi hoàng dương cắt tỉa gọn gàng, và chạy dọc theo đó là những giàn nho dài phủ kín lá, bên dưới có cả ghế để ngồi nghỉ.

Nơi này cũng từng có những nhà kính trồng cây nữa, nhưng giờ tất cả đều đã đổ nát.

Tôi tin rằng đã có vài vụ tranh chấp pháp lý xảy ra, liên quan đến những người thừa kế và đồng thừa kế; dù sao đi nữa, nơi này đã bị bỏ hoang suốt nhiều năm.

Điều đó làm giảm đi phần nào vẻ huyền bí ma quái mà tôi tưởng tượng, e là vậy. Nhưng tôi không bận tâm với điều đó. Ngôi nhà này có điều gì đó rất lạ, tôi có thể cảm nhận được.

Tôi thậm chí đã nói như vậy với John vào một đêm trăng sáng, nhưng anh ấy bảo cảm giác đó chỉ là do gió lùa, rồi đứng dậy đóng cửa sổ lại.

Đôi khi tôi nổi giận với John một cách vô cớ. Tôi chắc chắn trước đây mình không hề nhạy cảm đến thế. Tôi nghĩ tất cả là do tình trạng suy nhược thần kinh này.

Nhưng John nói rằng nếu tôi cứ buông thả theo cảm xúc như vậy, tôi sẽ đánh mất khả năng tự chủ cần thiết. Thế nên tôi phải cố gắng hết sức để kiềm chế bản thân, ít nhất là trước mặt anh ấy, và điều đó khiến tôi vô cùng mệt mỏi.

Tôi chẳng thích căn phòng của chúng tôi chút nào. Tôi muốn một căn ở tầng dưới, mở ra hiên nhà, với những đoá hồng leo đầy bậu cửa và những tấm rèm vải hoa kiểu cổ thật xinh đẹp! Nhưng John nhất quyết không đồng ý.

Anh ấy bảo căn phòng đó chỉ có một cửa sổ, không đủ chỗ cho hai chiếc giường, và nếu anh ấy ở phòng khác thì cũng không có phòng nào đủ gần để tiện chăm sóc tôi.

Anh ấy rất chu đáo và yêu thương tôi, hầu như chẳng để tôi làm bất cứ việc gì nếu không có sự chỉ dẫn cụ thể.

Tôi có cả một lịch trình điều trị được sắp xếp cho từng giờ trong ngày. Anh ấy gánh vác mọi lo toan thay tôi, đến mức tôi cảm thấy mình thật vô ơn một cách hèn hạ khi không biết trân trọng điều đó hơn.

Anh ấy bảo chúng tôi đến đây hoàn toàn vì tôi, rằng tôi cần được nghỉ ngơi tuyệt đối và hít thở nhiều không khí trong lành nhất có thể.

“Việc vận động của em tùy thuộc vào sức khỏe của em, em yêu,” anh ấy nói, “và chuyện ăn uống phần nào tùy thuộc vào khẩu vị của em, nhưng không khí trong lành thì em có thể hít thở mọi lúc.”

Vì thế, chúng tôi chọn ở căn phòng dành cho trẻ nhỏ trên tầng áp mái.

Đó là một căn phòng rộng lớn, thoáng đãng, gần như chiếm trọn cả tầng, với những ô cửa sổ nhìn ra khắp các hướng, ngập tràn ánh nắng và không khí trong lành. Theo tôi đoán, ban đầu đây là phòng dành cho trẻ nhỏ, sau đó được dùng làm phòng vui chơi rồi phòng tập thể dục, bởi vì các cửa sổ đều có song chắn để bảo vệ trẻ nhỏ, và trên tường còn có những chiếc vòng cùng đủ thứ vật dụng khác.

Lớp sơn và giấy dán tường trông như thể nơi này từng được sử dụng bởi cả một ngôi trường nam sinh. Giấy dán tường bị bóc rách từng mảng lớn – ngay quanh đầu giường của tôi, vừa tầm tay tôi có thể với tới, và còn một mảng rất lớn khác ở phía bên kia căn phòng, sát gần sàn nhà. Tôi chưa từng thấy loại giấy dán tường nào tệ hại đến thế trong đời.

Nó có kiểu hoa văn loằng ngoằng, diêm dúa, phạm phải mọi tội lỗi mà nghệ thuật có thể phạm.

Nó đủ nhạt nhẽo để khiến người ta rối mắt khi cố lần theo các đường nét, nhưng cũng đủ nổi bật để không ngừng gây khó chịu và kích thích sự soi xét. Và khi bạn theo dõi những đường cong khập khiễng, bất định ấy được một quãng ngắn, chúng bỗng dưng ‘tự sát’ – lao phăng xuống theo những góc độ kỳ quái, rồi tự hủy hoại chính mình trong những mâu thuẫn xưa nay chưa từng thấy.

Màu sắc của nó thật khó chịu, gần như ghê tởm – một màu vàng đục ngầu, bẩn thỉu như đang âm ỉ cháy, phai màu một cách kỳ lạ khi ánh mặt trời chậm rãi dịch chuyển.

Ở vài chỗ, nó mang sắc màu cam xỉn nhưng lại loè loẹt, ở những chỗ khác lại là màu vàng lưu huỳnh bệnh hoạn.

Chẳng trách lũ trẻ ghét nó! Chính tôi cũng sẽ ghét nó nếu phải sống trong căn phòng này lâu ngày.

John đang đến kìa, tôi phải cất những trang viết này đi thôi. Anh ấy ghét nhất là thấy tôi viết dù chỉ một chữ.

Chúng tôi đã ở đây được hai tuần, và kể từ ngày đầu tiên ấy đến nay, tôi chẳng có tâm trạng nào để viết.

Giờ đây tôi đang ngồi bên cửa sổ, trong căn phòng áp mái dành cho trẻ nhỏ khủng khiếp này, và chẳng có gì ngăn cản tôi viết bao nhiêu tùy thích, ngoại trừ việc tôi không còn đủ sức lực.

John đi vắng suốt cả ngày, thậm chí có những đêm anh ấy cũng không về khi bệnh nhân của anh ấy trở nặng.

Tôi mừng vì trường hợp của mình không nghiêm trọng!

Nhưng những chứng rối loạn thần kinh này thật sự khiến người ta trầm uất đến đáng sợ.

John không biết tôi thực sự đau khổ đến mức nào. Anh ấy biết rằng chẳng có lý do gì để đau khổ cả, và điều đó dường như đã đủ để khiến anh ấy yên lòng.

Dĩ nhiên tất cả chỉ là chứng suy nhược thần kinh mà thôi. Nhưng điều khiến tôi nặng lòng biết bao là tôi không thể làm tròn bổn phận của mình theo bất kỳ cách nào!

Tôi từng mong sẽ trở thành một trợ thủ đắc lực cho John, một chỗ dựa tinh thần và niềm an ủi thực sự cho anh ấy, thế mà giờ đây tôi đã gần như trở thành một gánh nặng.

Không ai có thể tin nổi tôi đã phải nỗ lực đến nhường nào để làm được những việc ít ỏi mà mình còn đủ sức làm, chẳng hạn như mặc quần áo chỉnh tề, tiếp khách, và quán xuyến việc nhà.

Thật may mắn khi Mary chăm sóc em bé rất khéo. Một đứa bé đáng yêu làm sao!

Thế nhưng tôi lại không thể ở bên con. Điều đó khiến tôi vô cùng căng thẳng và bất an.

Tôi đoán rằng trong cả cuộc đời mình, John chưa từng biết thế nào là lo âu hay suy nhược thần kinh. Anh ấy cười nhạo tôi ghê gớm chỉ vì chuyện giấy dán tường này!

Lúc đầu anh ấy định thay giấy dán tường cho căn phòng, nhưng sau đó lại nói rằng tôi đang để nó lấn lướt tâm trí, và rằng đối với một bệnh nhân thần kinh, không có gì tệ hơn việc đầu hàng trước những tưởng tượng hão huyền như vậy.

Anh ấy bảo rằng sau khi thay giấy dán tường, tôi sẽ lại phàn nàn về chiếc giường nặng nề, rồi đến những khung cửa sổ có song chắn, rồi cái cổng ở đầu cầu thang, và cứ thế mãi.

“Em biết nơi này đang giúp em khỏe lên mà,” anh ấy nói, “và thật lòng mà nói, em yêu ạ, anh không muốn sửa sang cả ngôi nhà chỉ vì một hợp đồng thuê ngắn hạn ba tháng.”

“Vậy thì xin anh hãy để chúng ta xuống tầng dưới đi,” tôi nói, “ở dưới đó có những căn phòng đẹp biết bao.”

Thế rồi anh ấy ôm tôi vào lòng, gọi tôi là “cô ngỗng con đáng yêu”, rồi bảo rằng nếu tôi muốn thì anh ấy sẵn lòng xuống tận tầng hầm rồi sẵn tiện quét vôi trắng luôn cho nơi đó nữa.

Nhưng phải công nhận rằng anh ấy có lý về chiếc giường, những ô cửa sổ và mọi thứ khác.

Căn phòng này quả thực thoáng đãng và dễ chịu đến mức bất kỳ ai cũng có thể ao ước, và dĩ nhiên tôi sẽ không ngốc nghếch đến nỗi làm anh ấy khó chịu chỉ vì ý thích nhất thời của mình.

Thật ra tôi đang dần yêu mến căn phòng lớn này, ngoại trừ thứ giấy dán tường kinh khủng kia.

Từ một ô cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy khu vườn, những giàn cây rợp bóng râm sâu thẳm đầy bí ẩn, những khóm hoa kiểu cổ mọc lên rực rỡ, cùng những bụi cây và những vòm cây già cỗi, sần sùi.

Từ một ô cửa sổ khác, tôi lại có được một tầm nhìn tuyệt đẹp hướng ra vịnh và một cầu tàu nhỏ riêng thuộc khu điền trang này. Có một lối đi rợp bóng cây rất đẹp chạy dài từ ngôi nhà xuống tận nơi đó. Tôi luôn tưởng tượng mình nhìn thấy người qua lại trên những lối đi và dưới những giàn hoa chằng chịt này, nhưng John đã dặn tôi tuyệt đối không được thả mình theo trí tưởng tượng dù chỉ một chút. Anh ấy nói rằng với sức tưởng tượng phong phú và thói quen thêu dệt nên những câu chuyện của tôi, chứng suy nhược thần kinh này chắc chắn sẽ dẫn đến đủ loại ảo tưởng kích động; và rằng tôi nên dùng ý chí cùng sự sáng suốt của mình để kiềm chế khuynh hướng đó. Vì vậy, tôi đang cố gắng làm theo lời anh nói.

Đôi khi tôi nghĩ rằng nếu mình đủ khỏe để viết một chút thôi, điều đó có thể giải tỏa bớt áp lực của những ý nghĩ đang chất chứa trong đầu và khiến tôi được thanh thản hơn.

Nhưng tôi nhận ra rằng mỗi khi cố gắng viết, tôi lại nhanh chóng mệt lả.

Thật nản lòng khi không có ai để góp ý hay đồng hành với tôi trong công việc của mình. John nói rằng khi tôi thực sự khỏe lại, chúng tôi sẽ mời anh họ Henry và Julia đến đây chơi một chuyến thật dài. Nhưng hiện giờ anh ấy bảo rằng thà nhét pháo hoa vào vỏ gối của tôi còn hơn để tôi tiếp xúc với những con người quá sôi nổi và đầy kích thích tinh thần ấy.

Tôi ước gì mình có thể hồi phục nhanh hơn.

Nhưng tôi không được nghĩ về chuyện đó nữa. Tờ giấy dán tường này khiến tôi có cảm giác như nó biết rõ ảnh hưởng độc hại mà nó gây ra!

Có một điểm lặp đi lặp lại nơi hoa văn rũ xuống, trông như một chiếc cổ bị gãy, và hai con mắt lồi ra nhìn chằm chằm vào bạn ở tư thế lộn ngược.

Tôi thực sự phát cáu vì vẻ trơ tráo và dai dẳng của nó. Những hình thù ấy bò lên, bò xuống, bò ngang; và những con mắt vô hồn, không bao giờ chớp ấy hiện diện ở khắp mọi nơi. Có một chỗ mà hai dải giấy dán tường không khớp với nhau, và những con mắt cứ thế chạy dọc lên xuống theo đường ranh giới, bên này nằm cao hơn bên còn lại.

Chưa bao giờ tôi thấy nhiều biểu cảm đến thế ở một vật vô tri vô giác, và ta đều biết rằng những vật như vậy vốn đã có thể mang nhiều biểu cảm đến nhường nào! Khi còn nhỏ, tôi thường nằm thao thức và cảm thấy thích thú cũng như kinh hãi từ những bức tường trống hay những món đồ nội thất đơn sơ hơn là phần lớn bọn trẻ có thể tìm thấy trong một cửa hàng đồ chơi.

Tôi còn nhớ những chiếc núm ngăn kéo trên cái tủ lớn cũ kỹ của chúng tôi ngày trước dường như luôn nháy mắt với vẻ thân thiện biết bao; và có một chiếc ghế lúc nào cũng mang lại cho tôi cảm giác như một người bạn vững chãi, đáng tin cậy.

Tôi thường cảm thấy rằng nếu những đồ vật khác trông quá đáng sợ, tôi chỉ cần nhảy lên chiếc ghế ấy là sẽ được an toàn.

Tuy nhiên, đồ đạc trong căn phòng này cũng không đến nỗi nào, chỉ là không được hài hoà cho lắm, vì chúng tôi đã phải chuyển tất cả chúng từ dưới nhà lên. Tôi đoán rằng khi nơi này còn được dùng làm phòng vui chơi, người ta đã phải dọn hết đồ đạc của phòng trẻ nhỏ ra ngoài, và cũng chẳng trách được! Tôi chưa từng thấy nơi nào bị bọn trẻ tàn phá ghê gớm đến thế.

Như tôi đã nói trước đây, giấy dán tường bị xé rách từng mảng ở nhiều chỗ, nhưng nó bám chặt chẳng khác gì một người anh em ruột thịt, hẳn những đứa trẻ ấy không chỉ căm ghét nó mà còn vô cùng kiên trì nữa.

Rồi sàn nhà thì đầy những vết cào xước, đục khoét và dăm gỗ bật tung; ngay cả lớp thạch cao cũng bị đào bới chỗ này chỗ kia. Còn chiếc giường lớn, nặng nề này – thứ duy nhất chúng tôi tìm thấy trong căn phòng, trông như thể đã trải qua biết bao trận chiến.

Nhưng tôi chẳng bận tâm đến những thứ đó chút nào, trừ tấm giấy dán tường ấy.

Kìa, em gái của John đang đến. Cô ấy quả là một cô gái dễ mến, và vô cùng chu đáo với tôi! Tôi không được để cô ấy bắt gặp mình đang viết.

Cô ấy là một quản gia hoàn hảo và đầy nhiệt huyết, và chẳng mong cầu một nghề nghiệp nào tốt hơn thế. Tôi thực sự tin rằng cô ấy nghĩ chính việc viết lách đã làm tôi đổ bệnh!

Nhưng tôi có thể viết khi cô ấy ra ngoài, và từ những ô cửa sổ này tôi có thể nhìn thấy cô ấy từ rất xa.

Có một ô cửa sổ nhìn bao quát ra con đường – một con đường uốn lượn tuyệt đẹp, rợp bóng cây, và một ô cửa khác hướng tầm mắt ra khắp miền quê. Một miền quê cũng đẹp biết bao, với những cây du khổng lồ và những đồng cỏ mượt như nhung.

Tấm giấy dán tường này có một kiểu hoa văn ẩn bên dưới với một sắc độ khác, và đó là phần đặc biệt khó chịu nhất, bởi vì người ta chỉ có thể nhìn thấy nó dưới những điều kiện ánh sáng nhất định, mà ngay cả khi ấy cũng chẳng rõ ràng.

Nhưng ở những chỗ màu sắc chưa bị phai đi, và khi ánh nắng chiếu rọi vừa vặn, tôi có thể nhìn thấy một hình thù kỳ lạ, trêu ngươi và vô định hình, dường như đang ủ rũ ẩn mình phía sau lớp hoa văn bề mặt ngớ ngẩn và quá đỗi phô trương ấy.

Kìa, em ấy đang bước lên cầu thang!

Vậy là ngày Quốc khánh mùng Bốn tháng Bảy đã qua rồi! Mọi người đã rời đi, và tôi mệt rã rời. John nghĩ có lẽ sẽ tốt cho tôi nếu được gặp gỡ vài người, nên chúng tôi đã đón mẹ, Nellie và bọn trẻ xuống đây chơi một tuần.

Dĩ nhiên tôi chẳng phải đụng tay vào việc gì cả. Giờ đây Jennie quán xuyến hết mọi thứ.

Thế nhưng tôi vẫn mệt mỏi như thường.

John nói rằng nếu tôi không bình phục nhanh hơn, anh ấy sẽ đưa tôi đến gặp bác sĩ Weir Mitchell vào mùa thu này.

Nhưng tôi chẳng muốn đến đó một chút nào. Tôi có một người bạn từng được ông ấy điều trị, và cô ấy nói rằng ông ta cũng giống hệt John và anh trai tôi, có điều còn cực đoan hơn thế!

Hơn nữa, việc đi xa như vậy thật là một công việc lao tâm khổ tứ.

Tôi cảm thấy chẳng đáng để nhấc ngón tay lên làm bất cứ việc gì, và tôi ngày càng trở nên cáu bẳn, khó chiều một cách khủng khiếp.

Tôi khóc chẳng vì lý do gì cả, và khóc hầu như suốt ngày.

Dĩ nhiên tôi không khóc khi có John hoặc bất kỳ ai khác ở đây, mà chỉ khi ở một mình.

Và dạo này tôi ở một mình khá nhiều. John thường phải ở lại thị trấn vì những ca bệnh nghiêm trọng, còn Jennie rất tốt bụng và để tôi được yên mỗi khi tôi muốn ở riêng.

Thế là tôi đi dạo một chút ngoài vườn hoặc đi xuống lối đi rợp bóng mát tuyệt đẹp kia, ngồi ngoài hiên rộng dưới những đoá hồng leo, và nằm lỳ trên căn phòng áp mái này suốt cả ngày.

Tôi thực sự đang dần yêu thích căn phòng này, bất chấp tấm giấy dán tường. Hay có lẽ, chính vì tấm giấy dán tường ấy.

Nó cứ quẩn quanh trong tâm trí tôi mãi!

Tôi nằm đây trên chiếc giường khổng lồ bất động này. Tôi tin rằng nó đã được đóng chặt xuống sàn, và dõi theo những hoa văn ấy hàng giờ liền. Tôi cam đoan rằng việc đó chẳng khác nào một bài tập thể dục trí não. Tôi bắt đầu, chẳng hạn, từ góc dưới kia, nơi tờ giấy chưa bị rách hay tác động gì, rồi đến lần thứ một nghìn tự nhủ rằng mình sẽ lần theo cái hoa văn vô nghĩa ấy cho đến khi rút ra được một kết luận nào đó.

Tôi biết đôi chút về các nguyên lý của nghệ thuật trang trí, và tôi biết rằng thứ này không được sắp đặt theo bất kỳ quy luật nào về sự tỏa tia, sự xen kẽ, sự lặp lại, tính đối xứng, hay bất cứ nguyên tắc nào khác mà tôi từng nghe đến.

Dĩ nhiên, hoa văn có lặp lại theo từng dải giấy dán tường, nhưng ngoài điều đó ra thì chẳng tuân theo quy luật nào khác cả.

Khi nhìn theo một cách nào đó, mỗi dải giấy dán tường dường như tồn tại riêng biệt; những đường cong phình to và những nét uốn lượn trang trí – một kiểu kiến trúc “Romanesque suy đồi” trong cơn mê sảng vì rượu, lảo đảo bò lên bò xuống thành những cột dọc ngớ ngẩn, tách rời nhau.

Nhưng mặt khác, chúng lại nối kết với nhau theo đường chéo, và những đường nét nguệch ngoạc ấy chạy dài thành những làn sóng nghiêng khổng lồ gây kinh hoàng cho thị giác, giống như một đám rong biển đang cuộn mình, rượt đuổi nhau một cách điên cuồng.

Toàn bộ hoa văn ấy còn trải dài theo phương ngang nữa, ít nhất thì trông có vẻ như vậy, và tôi kiệt sức khi cố phân biệt quy luật vận động của nó theo hướng ấy.

Người ta còn dùng một dải giấy nằm ngang làm đường viền trang trí sát tường, và điều đó càng khiến mọi thứ rối rắm kinh khủng.

Có một góc của căn phòng nơi giấy dán tường gần như còn nguyên vẹn, và ở đó, khi những luồng ánh sáng giao nhau tắt dần và ánh mặt trời lặn chiếu thẳng vào, tôi gần như có thể tưởng tượng rằng cuối cùng cũng tồn tại một tâm điểm tỏa ra các đường nét. Những hình thù quái dị kéo dài bất tận ấy dường như tụ lại quanh một tâm điểm chung rồi lao vút ra ngoài trong những cú đổ nhào điên cuồng với cùng một mức độ hỗn loạn.

Việc dõi theo nó khiến tôi thật mệt mỏi. Có lẽ tôi sẽ chợp mắt một lát.

Tôi không biết tại sao mình lại viết những dòng này.

Tôi không muốn viết chút nào.

Tôi cảm thấy mình không đủ sức nữa.

Và tôi biết John sẽ cho rằng việc này thật ngớ ngẩn. Nhưng tôi phải tìm cách nào đó để nói ra những điều mình cảm nhận và suy nghĩ – việc đó giúp tôi nhẹ lòng biết bao!

Thế nhưng giờ đây sự gắng sức này dường như ngày một lớn hơn cả cảm giác nhẹ nhõm mà nó mang lại.

Bây giờ, phân nửa thời gian tôi trở nên vô cùng lười nhác, chỉ nằm dài hết sức có thể.

John bảo tôi không được để mất sức, và bắt tôi uống dầu gan cá tuyết, đủ loại thuốc bổ và những thứ tương tự, chưa kể đến bia, rượu vang và thịt bò hảo hạng.

John yêu dấu! Anh ấy yêu tôi rất nhiều và ghét việc thấy tôi đau ốm. Hôm nọ tôi đã cố gắng nói chuyện với anh ấy một cách thật nghiêm túc và thấu đáo, để anh ấy hiểu tôi mong anh ấy cho phép mình đến thăm anh họ Henry và Julia đến nhường nào.

Nhưng anh ấy cho rằng tôi không đủ sức để đi, cũng không đủ sức để chịu đựng chuyến đi sau khi đến nơi; và tôi đã không trình bày được lý lẽ của mình cho ra hồn, vì tôi đã bật khóc trước khi kịp nói hết câu.

Giờ đây, ngay cả việc suy nghĩ một cách mạch lạc cũng đang dần trở thành một nỗ lực quá lớn đối với tôi. Chắc chỉ là vì chứng suy nhược thần kinh này thôi.

Và John thân yêu đã ôm gọn tôi vào lòng, bế tôi lên lầu, đặt tôi nằm lên giường, rồi ngồi bên cạnh đọc sách cho tôi nghe cho đến khi tâm trí tôi mệt lả.

Anh ấy nói rằng tôi là người yêu dấu của anh, là niềm an ủi của anh, là tất cả những gì anh có; và rằng tôi phải chăm sóc bản thân vì anh, phải giữ cho mình khỏe mạnh.

Anh ấy nói rằng không ai ngoài chính tôi có thể giúp tôi thoát khỏi tình trạng này; rằng tôi phải dùng ý chí và khả năng tự chủ của mình, không được để những ý nghĩ viển vông ngốc nghếch cuốn mình đi.

Có một điều an ủi là em bé vẫn khỏe mạnh và vui vẻ, và không phải sống trong căn phòng áp mái với tấm giấy dán tường kinh tởm này.

Nếu chúng tôi không ở đây thì đứa trẻ đáng yêu ấy đã phải ở rồi! Thật là một sự may mắn biết bao khi thoát được điều đó. Trời ạ, tôi sẽ không đời nào để con mình – một sinh linh bé bỏng, nhạy cảm và mong manh, phải sống trong một căn phòng như thế này, dù tôi phải đánh đổi bất cứ điều gì.

Trước đây tôi chưa từng nghĩ đến điều đó, nhưng hóa ra thật may là cuối cùng John đã giữ tôi ở lại đây. Bạn thấy đấy, tôi chịu đựng được nơi này dễ dàng hơn một đứa trẻ rất nhiều.

Dĩ nhiên giờ tôi không bao giờ nhắc đến chuyện ấy với họ nữa. Tôi đã đủ khôn ngoan rồi, nhưng dù vậy tôi vẫn âm thầm quan sát nó.

Có những thứ trong tấm giấy dán tường ấy mà không ai biết ngoài tôi, và cũng sẽ chẳng bao giờ biết được.

Đằng sau lớp hoa văn bên ngoài, những hình thù mờ ảo ấy ngày càng hiện rõ hơn qua từng ngày.

Chúng luôn có cùng một hình thù, chỉ là xuất hiện vô số kể.

Và nó giống như một người phụ nữ đang khom lưng, bò trườn xung quanh phía sau lớp hoa văn ấy. Tôi chẳng thích điều đó chút nào. Tôi tự hỏi, tôi bắt đầu nghĩ rằng, giá như John đưa tôi rời khỏi nơi này!

Thật khó để nói chuyện với John về bệnh tình của mình, bởi vì anh ấy quá thông thái, và bởi vì anh ấy yêu tôi quá đỗi.

Nhưng tối qua tôi đã cố thử.

Đó là một đêm trăng sáng. Ánh trăng tràn vào khắp nơi, giống như ánh mặt trời vẫn làm vào ban ngày.

Đôi khi tôi ghét phải nhìn thấy nó. Nó rón rén bò vào một cách thật chậm chạp, và lúc nào cũng lẻn vào ô cửa sổ này hoặc ô cửa sổ khác.

John đang ngủ, và tôi không muốn làm anh ấy thức giấc, nên tôi nằm yên, quan sát ánh trăng phủ lên tấm giấy dán tường đang nhấp nhô gợn sóng ấy cho đến khi cảm thấy rợn người.

Hình bóng mờ nhạt phía sau dường như đang làm rung chuyển lớp hoa văn bên ngoài, như thể cô ta muốn thoát ra.

Tôi khẽ khàng ngồi dậy, bước đến để sờ thử xem liệu tấm giấy có thực sự chuyển động hay không, và khi tôi quay lại thì John đã thức giấc.

“Có chuyện gì vậy, cô bé của anh?” anh ấy hỏi. “Đừng đi lại như thế chứ, em sẽ bị lạnh đấy.”

Tôi nghĩ đây là thời điểm thích hợp để nói chuyện, nên tôi bảo anh ấy rằng tôi thực sự không hề khá lên chút nào khi ở nơi này, và rằng tôi mong anh ấy đưa tôi đi nơi khác.

“Ôi em yêu!” anh ấy nói, “hợp đồng thuê nhà của chúng ta còn ba tuần nữa mới hết hạn, và anh không thấy có cách nào để rời đi sớm hơn được.”

“Nhà mình vẫn chưa sửa xong, và hiện giờ anh hoàn toàn không thể rời khỏi thị trấn. Dĩ nhiên, nếu em thật sự gặp nguy hiểm thì anh có thể và chắc chắn sẽ làm như vậy. Nhưng em thực sự đang khá lên rồi, em yêu à, dù em có nhận ra điều đó hay không. Anh là bác sĩ mà, em yêu, và anh biết chứ. Em đang tăng cân, sắc mặt cũng hồng hào hơn, khẩu vị đã khá lên. Thật lòng mà nói, anh cảm thấy yên tâm hơn về tình trạng của em rất nhiều.”

“Em chẳng tăng thêm chút cân nào cả,” tôi đáp, “thậm chí còn không bằng trước; và có thể khẩu vị của em khá hơn vào buổi tối, khi anh ở đây, nhưng ban ngày, lúc anh đi vắng, thì nó lại tệ hơn.”

“Cầu Chúa phù hộ cho trái tim bé bỏng của em!” anh ấy vừa nói vừa ôm tôi thật chặt. “Em có thể ốm yếu bao nhiêu tùy thích! Nhưng giờ thì hãy tận dụng những giờ khắc quý giá này để đi ngủ thôi, rồi sáng mai chúng ta sẽ nói tiếp nhé!”

“Và anh sẽ không đưa em đi khỏi đây sao?” tôi buồn bã hỏi.

“Sao anh có thể làm vậy được, em yêu? Chỉ còn ba tuần nữa thôi, rồi chúng ta sẽ có một chuyến đi chơi ngắn thật dễ chịu trong vài ngày, trong lúc Jennie dọn dẹp nhà cửa sẵn sàng. Thật đấy, em yêu, em đang khá hơn rồi!”

“Có lẽ khỏe hơn về thể chất…” tôi bắt đầu nói rồi đột ngột dừng lại, vì anh ấy ngồi bật dậy và nhìn tôi bằng ánh mắt nghiêm nghị, đầy trách móc đến nỗi tôi không thể thốt thêm lời nào.

“Em yêu của anh,” anh ấy nói, “anh cầu xin em, vì anh, vì con của chúng ta, và cũng vì chính em nữa, đừng bao giờ để ý nghĩ đó xuất hiện trong đầu mình, dù chỉ một khoảnh khắc! Không có gì nguy hiểm hơn, cũng không có gì có sức mê hoặc đến thế đối với một người có tính khí như em. Đó là một ảo tưởng sai lầm và ngớ ngẩn. Chẳng lẽ em không thể tin anh với tư cách một bác sĩ khi anh nói điều đó sao?”

Dĩ nhiên sau đó tôi không nói thêm lời nào về chuyện ấy nữa, và chẳng bao lâu sau chúng tôi đi ngủ. Anh ấy nghĩ tôi đã ngủ trước, nhưng tôi không hề ngủ. Tôi nằm đó hàng giờ liền, cố xác định xem liệu lớp hoa văn phía trước và lớp hoa văn phía sau của tấm giấy dán tường có thực sự chuyển động cùng nhau hay riêng rẽ.

Với kiểu hoa văn như thế này, dưới ánh sáng ban ngày, thiếu đi sự nhất quán, một sự thách thức mọi quy luật, khiến nó trở thành tác nhân gây khó chịu thường trực đối với một tâm trí bình thường.

Màu sắc của nó vốn đã đủ gớm ghiếc, đủ bất định và đủ khiến người ta phát điên rồi, nhưng chính cái hoa văn mới là thứ tra tấn thực sự.

Bạn nghĩ rằng mình đã hiểu được nó, nhưng ngay khi vừa bắt đầu nắm được mạch để dõi theo nó một cách suôn sẻ, nó liền lộn nhào một cú ngoạn mục và thế là mọi công sức trở nên vô ích. Nó tát thẳng vào mặt bạn, quật ngã bạn xuống đất rồi giẫm đạp lên bạn. Chuyện đó giống như một cơn ác mộng vậy.

Hoa văn bề nổi là một dải hoạ tiết Ả Rập rườm rà, khiến người ta liên tưởng đến một loại nấm độc. Nếu bạn có thể hình dung ra một nấm tán mọc nối tiếp nhau thành từng đốt, một chuỗi nấm dài vô tận, cứ liên tục nảy chồi và mọc lan trong những vòng xoắn bất tận – thì đại khái nó giống như thế.

Ít nhất là đôi khi như vậy!

Có một đặc điểm rất kỳ lạ ở tấm giấy dán tường này, một điều mà dường như chẳng ai nhận ra ngoài tôi: đó là nó thay đổi theo sự thay đổi của ánh sáng.

Khi ánh mặt trời rọi qua ô cửa sổ phía đông – tôi luôn chờ đợi tia nắng dài, thẳng đầu tiên ấy – nó thay đổi nhanh đến mức tôi không bao giờ có thể hoàn toàn tin nổi vào mắt mình.

Đó là lý do vì sao lúc nào tôi cũng dõi theo nó.

Dưới ánh trăng – mà mỗi khi có trăng thì ánh trăng lại tràn vào suốt đêm – tôi sẽ chẳng thể nhận ra đó là cùng một tấm giấy dán tường.

Vào ban đêm, dưới bất kỳ thứ ánh sáng nào, dù là ánh hoàng hôn, ánh nến, ánh đèn dầu, và tệ nhất là dưới ánh trăng, nó đều biến thành những song sắt! Ý tôi là lớp hoa văn bề nổi ấy, còn người phụ nữ phía sau nó thì hiện ra rõ mồn một.

Suốt một thời gian dài tôi đã không nhận ra thứ hiển hiện ở phía sau – cái hoa văn mờ nhạt ẩn bên dưới ấy – nhưng giờ đây tôi hoàn toàn chắc chắn đó là một người phụ nữ.

Dưới ánh sáng ban ngày, cô ta trở nên khuất phục và im lìm. Tôi tưởng tượng chính lớp hoa văn bên ngoài kia đã giữ cô ta bất động như thế. Thật là khó hiểu. Nó khiến tôi nằm im suốt hàng giờ liền chỉ để suy ngẫm về nó.

Bây giờ tôi nằm nghỉ rất nhiều. John nói rằng điều đó tốt cho tôi, và rằng tôi nên ngủ càng nhiều càng tốt, bất cứ khi nào có thể.

Thực ra chính John là người tạo cho tôi thói quen ấy khi bắt tôi nằm nghỉ một giờ sau mỗi bữa ăn.

Tôi tin chắc đây là một thói quen rất tệ, bởi vì, bạn thấy đấy, tôi không thể ngủ được.

Và điều đó lại nuôi dưỡng sự dối trá, vì tôi không hề nói với họ rằng mình vẫn còn thức. Ồ, tất nhiên là không đời nào!

Sự thật là, tôi đang bắt đầu cảm thấy hơi sợ John.

Đôi khi anh ấy trông rất kỳ quặc, và ngay cả Jennie cũng mang một ánh mắt khó hiểu.

Thỉnh thoảng tôi chợt nghĩ, như một giả thuyết mang tính khoa học, rằng có lẽ tất cả là tại tấm giấy dán tường này!

Tôi đã lén quan sát John vào những lúc anh ấy không biết tôi đang nhìn. Anh thường đột ngột bước vào phòng, viện đủ mọi cớ một cách ngây thơ, và nhiều lần tôi bắt gặp anh ấy nhìn chằm chằm vào tấm giấy dán tường!

Cả Jennie nữa. Có lần tôi bắt gặp Jennie đang đặt tay lên nó.

Cô ấy không biết tôi đang ở trong phòng. Khi tôi hỏi, bằng một giọng điềm tĩnh, rất điềm tĩnh, và với thái độ kiềm chế nhất có thể, rằng cô ấy đang làm gì với tấm giấy dán tường, cô ấy quay phắt lại như thể vừa bị bắt quả tang đang ăn cắp thứ gì đó, rồi trông có vẻ khá tức giận, hỏi tôi tại sao lại làm cô ấy giật mình kinh hãi đến thế!

Rồi cô ấy cho rằng tấm giấy dán tường này làm vấy bẩn mọi thứ nó chạm vào, rằng cô ấy đã phát hiện những vệt vàng nhòe trên áo quần của tôi và của John, và cô ấy mong rằng chúng tôi sẽ cẩn thận hơn.

Nghe chẳng phải thật ngây thơ sao? Nhưng tôi biết cô ta đang nghiên cứu cái hoa văn đó, và tôi quyết tâm rằng không một ai được phép tìm ra bí mật của nó ngoại trừ tôi.

Cuộc sống giờ đây thú vị hơn trước rất nhiều. Bạn thấy đấy, giờ tôi đã có điều gì đó để mong đợi, để hướng tới, để dõi theo. Thực sự tôi ăn ngon miệng hơn, và cũng trở nên điềm tĩnh hơn trước.

John vui sướng khi thấy tôi tiến triển! Hôm nọ anh ấy còn khẽ cười và bảo trông tôi như thể đang tràn đầy sức sống bất chấp tấm giấy dán tường kia.

Tôi cười trừ cho qua chuyện. Tôi không hề có ý định nói cho anh ấy biết rằng, thực chất, chính là nhờ tấm giấy dán tường đó. Anh ấy sẽ chế giễu tôi mất. Thậm chí anh ấy còn có thể muốn đưa tôi rời khỏi nơi này.

Giờ đây tôi không muốn rời đi chút nào, ít nhất là cho đến khi tôi tìm ra được bí mật của nó. Chỉ còn một tuần nữa thôi, và tôi nghĩ chừng đó là đủ.

Tôi cảm thấy khỏe hơn rất nhiều rồi! Ban đêm tôi không ngủ được bao nhiêu, vì việc theo dõi những chuyển biến mới của nó quá đỗi thú vị; nhưng bù lại tôi ngủ rất nhiều vào ban ngày.

Ban ngày, nó vừa khiến người ta mệt mỏi vừa khiến người ta bối rối.

Những mầm mới cứ liên tục mọc trên lớp “nấm” ấy, và khắp nơi lại xuất hiện thêm những sắc độ vàng mới. Tôi không thể nào đếm xuể, dù đã thực sự tận tâm cố gắng.

Thật là một màu vàng kỳ lạ, tấm giấy dán tường đó! Nó khiến tôi nhớ đến mọi thứ màu vàng mà tôi từng thấy – không phải những thứ đẹp đẽ như hoa mao lương, mà là những thứ vàng cũ kỹ, bẩn thỉu và đáng ghét.

Nhưng còn có một điều khác nữa ở tấm giấy dán tường ấy – mùi của nó!

Tôi đã nhận ra điều đó ngay khoảnh khắc chúng tôi bước vào căn phòng, nhưng lúc ấy có quá nhiều ánh nắng và không khí trong lành nên mùi không quá khó chịu. Giờ đây chúng tôi vừa trải qua một tuần sương mù và mưa liên tiếp, và dù cửa sổ có mở hay không thì cái mùi ấy vẫn cứ ở đây.

Nó len lỏi khắp cả ngôi nhà.

Tôi thấy nó lảng vảng trong phòng ăn, rình rập trong phòng khách, ẩn mình ở hành lang, và chờ sẵn trên cầu thang để phục kích tôi.

Nó bám vào cả tóc tôi.

Ngay cả khi tôi dạo chơi, nếu tôi đột ngột quay đầu lại và làm nó giật mình – thì cái mùi ấy vẫn cứ ở đó!

Một mùi hương thật kỳ dị làm sao! Tôi đã dành hàng giờ để cố phân tích nó, để tìm xem nó giống với mùi gì.

Ban đầu nó không hề khó chịu, và rất dịu nhẹ, nhưng lại là thứ mùi tinh vi và dai dẳng nhất mà tôi từng gặp phải.

Trong thời tiết ẩm ướt thế này, nó thật kinh khủng. Tôi thức giấc giữa đêm và thấy nó như đang lơ lửng ngay trên đỉnh đầu mình.

Ban đầu nó từng khiến tôi khó chịu. Tôi đã nghĩ đến chuyện nghiêm túc là đốt quách ngôi nhà đi – chỉ để triệt tiêu cái mùi ấy.

Nhưng giờ đây tôi đã quen với nó. Thứ duy nhất mà tôi có thể liên tưởng đến, để so sánh xem nó giống với cái gì, chính là màu sắc của tấm giấy dán tường! Một thứ mùi màu vàng.

Có một vết rất kỳ lạ trên bức tường này, ở tít phía dưới, gần tấm ván ốp chân tường. Một vệt dài chạy vòng quanh căn phòng. Nó đi qua phía sau từng món đồ nội thất, ngoại trừ chiếc giường, một vệt ố dài, thẳng và đều đặn, như thể nó đã được lau đi lau lại nhiều lần.

Tôi tự hỏi nó được tạo ra như thế nào, ai đã tạo ra nó, và họ tạo ra để làm gì. Cứ xoay vòng, xoay vòng và xoay vòng – xoay vòng, xoay vòng và xoay vòng – nó khiến tôi chóng mặt quá!

Cuối cùng tôi thực sự đã phát hiện ra một điều gì đó.

Nhờ việc theo dõi sát sao vào ban đêm, khi nó biến đổi liên tục như thế, cuối cùng tôi đã tìm ra câu trả lời.

Lớp hoa văn bề nổi thực sự chuyển động – và cũng chẳng có gì lạ! Chính người phụ nữ phía sau đang lay lắc nó!

Đôi khi tôi nghĩ có rất nhiều người phụ nữ ở phía sau, và đôi khi chỉ có một người, và cô ta bò đi rất nhanh, và sự bò trườn của cô ta làm rung chuyển toàn bộ cấu trúc ấy.

Rồi ở những chỗ sáng nhất, cô ta đứng yên, còn ở những chỗ tối nhất, cô ta nắm chặt lấy những song sắt và lay mạnh chúng.

Và lúc nào cô ta cũng cố tìm cách chui ra. Nhưng không ai có thể chui qua được cái hoa văn đó. Nó siết chặt đến nghẹt thở. Tôi nghĩ đó là lý do vì sao nó có nhiều cái đầu đến vậy.

Bọn họ chui ra, rồi lớp hoa văn siết lấy họ, treo ngược họ lên, và làm cho đôi mắt họ trở nên trắng dã!

Nếu những cái đầu ấy bị che đi hoặc cắt bỏ, thì mọi chuyện sẽ không tệ đến mức này.

Tôi nghĩ người phụ nữ đó đã thoát ra được vào ban ngày!

Và tôi sẽ nói cho bạn biết lý do, bí mật nhé, tôi đã nhìn thấy cô ta!

Tôi có thể nhìn thấy cô ta từ mọi ô cửa sổ của tôi!

Tôi biết đó vẫn là cùng một người, tôi biết mà, vì cô ta luôn bò trườn, và hầu hết phụ nữ thì không bò trườn giữa ban ngày ban mặt như vậy.

Tôi thấy cô ta trên lối đi dài rợp bóng mát ấy, cứ bò lên rồi lại bò xuống. Tôi thấy cô ta trong những giàn nho tối tăm, bò trườn khắp xung quanh khu vườn.

Tôi thấy cô ta trên con đường dài dưới những vòm cây, bò một cách chậm rãi, và khi có xe ngựa đi qua, cô ta liền trốn dưới những bụi mâm xôi.

Tôi chẳng trách cô ta chút nào. Chắc hẳn phải nhục nhã và tủi hổ lắm khi bị bắt gặp đang bò trườn vào ban ngày như vậy!

Tôi luôn khóa trái cửa mỗi khi mình bò trườn vào ban ngày. Ban đêm tôi không thể làm vậy, vì tôi biết John sẽ lập tức nghi ngờ điều gì đó.

Và John bây giờ rất kỳ quặc, nên tôi không muốn làm anh ấy nổi cáu. Tôi ước gì anh ấy chuyển sang một căn phòng khác! Hơn nữa, tôi không muốn bất kỳ ai ngoài tôi là người phát hiện ra người phụ nữ ấy vào ban đêm.

Nhiều khi tôi tự hỏi liệu mình có thể nhìn thấy cô ta từ tất cả các ô cửa sổ cùng một lúc hay không.

Nhưng, dù có xoay người nhanh đến đâu, tôi cũng chỉ có thể nhìn ra một cửa sổ tại một thời điểm mà thôi.

Và dù tôi luôn nhìn thấy cô ta, cô ta có thể bò trườn nhanh hơn cả tốc độ tôi quay người!

Tôi đôi khi quan sát cô ta ở tận ngoài cánh đồng trống trải phía xa, bò nhanh như bóng mây trôi trên nền gió lớn.

Giá như lớp hoa văn bề nổi kia có thể bị bóc ra khỏi lớp hoa văn ẩn phía dưới! Tôi định sẽ thử làm việc đó, từng chút một.

Tôi đã phát hiện thêm một điều buồn cười nữa, nhưng lần này tôi sẽ không nói ra! Không nên tin tưởng người khác quá nhiều.

Chỉ còn hai ngày nữa là đến lúc phải gỡ bỏ tấm giấy dán tường này, và tôi tin rằng John đã bắt đầu để ý. Tôi không thích ánh mắt của anh ấy.

Và tôi đã nghe anh ấy hỏi Jennie rất nhiều câu hỏi mang tính chuyên môn về tôi. Cô ta đã đưa ra một báo cáo rất tốt.

Cô ấy nói rằng tôi ngủ rất nhiều vào ban ngày.

John biết tôi không ngủ ngon lắm vào ban đêm, dù tôi luôn rất yên lặng!

Anh ấy cũng hỏi tôi đủ thứ chuyện, và giả vờ như rất yêu thương, rất dịu dàng.

Như thể tôi không nhìn thấu được anh ấy vậy!

Tuy nhiên, tôi cũng không ngạc nhiên lắm khi anh ấy hành xử như thế, khi phải ngủ dưới tấm giấy dán tường này suốt ba tháng trời.

Nó chỉ kích thích sự quan tâm của tôi thôi, nhưng tôi chắc chắn rằng John và Jennie cũng đang bị nó ảnh hưởng một cách thầm kín.

Hoan hô! Hôm nay là ngày cuối cùng, nhưng thế là đủ rồi. John phải qua đêm ở thị trấn và sẽ không về cho đến tận tối nay.

Jennie muốn ngủ cùng tôi – cái đồ ranh ma ấy! Nhưng tôi bảo cô ta rằng chắc chắn tôi sẽ nghỉ ngơi tốt hơn nếu được ở một mình cả đêm.

Thật là một mưu mẹo thông minh, vì thực ra tôi đâu có ở một mình chút nào! Ngay khi trăng lên, và con người tội nghiệp ấy bắt đầu bò trườn và làm rung chuyển các dải hoa văn, tôi liền ngồi dậy và chạy đến giúp cô ta.

Tôi kéo và cô ta lắc, tôi lắc và cô ta kéo, và trước khi trời sáng, chúng tôi đã bóc được hàng mét của tấm giấy dán tường ấy.

Một dải cao gần bằng đầu tôi và chạy dài nửa vòng căn phòng.

Và rồi khi mặt trời lên, và cái hoa văn khủng khiếp ấy bắt đầu cười nhạo tôi, tôi tuyên bố rằng mình sẽ kết liễu nó trong ngày hôm nay!

Ngày mai chúng tôi sẽ rời đi, và họ đang chuyển tất cả đồ đạc của tôi xuống lầu trở lại, để trả mọi thứ về nguyên trạng như trước.

Jennie nhìn bức tường trong sự kinh ngạc tột độ, nhưng tôi vui vẻ bảo cô ta rằng tôi làm vậy chỉ vì sự căm ghét thuần túy đối với cái thứ độc địa đó mà thôi.

Cô ta cười và nói rằng chính cô ta cũng không phiền nếu phải tự tay làm việc đó, nhưng tôi không được để mình quá mệt.

Lần này cô ta đã để lộ cái đuôi của mình quá rõ!

Nhưng tôi đang ở đây, và không một kẻ nào được chạm tấm giấy dán tường này ngoài tôi – không một ai còn sống được chạm vào!

Cô ta cố gắng đưa tôi ra khỏi phòng – quá rõ ràng! Nhưng tôi nói với cô ta rằng căn phòng thật yên tĩnh, trống trải và sạch sẽ, nên tôi muốn nằm xuống ngủ thêm nhiều nhất có thể; và không ai được đánh thức tôi dậy ngay cả khi đến giờ ăn tối. Tôi sẽ tự gọi khi tỉnh dậy.

Thế là, bây giờ cô ta đã đi rồi. Những người hầu đã đi đi rồi, đồ đạc cũng đã được chuyển đi sạch, và chẳng còn lại gì ngoài cái khung giường lớn bị đóng chặt xuống sàn, cùng với tấm đệm vải bố mà chúng tôi đã tìm thấy trên đó.

Đêm nay chúng tôi sẽ ngủ ở tầng dưới, và ngày mai sẽ đi thuyền về nhà.

Giờ đây, khi căn phòng trở nên trống trải, tôi lại thấy khá thích nó.

Lũ trẻ ngày trước chắc hẳn đã phá phách kinh hoàng ở đây!

Cái khung giường này bị gặm nham nhở cả rồi!

Nhưng tôi phải bắt tay vào việc thôi.

Tôi đã khóa trái cửa và ném chìa khóa xuống lối đi phía trước nhà.

Tôi không muốn ra ngoài, và cũng không muốn bất kỳ ai bước vào, cho đến khi John về.

Tôi muốn anh ấy phải kinh ngạc.

Tôi có một sợi dây thừng ở trên này mà ngay cả Jennie cũng không tìm ra. Nếu người phụ nữ kia thực sự thoát ra được và cố bỏ trốn, tôi có thể trói cô ta lại!

Nhưng tôi quên mất rằng mình không thể với tới những chỗ cao nếu không có gì để đứng lên!

Cái giường này thì chẳng hề xê dịch!

Tôi đã cố nhấc và đẩy nó đến mức tê cả người, chân tay rã rời, rồi tôi tức giận đến nỗi cắn đứt một mảnh nhỏ ở góc giường – nhưng việc đó làm tôi đau răng quá.

Sau đó, tôi bóc sạch tất cả những mảnh giấy dán tường mà mình có thể với tới khi đứng trên sàn nhà. Nó bám chặt một cách khủng khiếp, và cái hoa văn có vẻ rất khoái chí vì điều này! Tất cả những cái đầu bị siết lại, những con mắt lồi ra, và đám nấm độc bò lổm ngổm kia cứ như đang chế giễu vào mặt tôi!

Tôi bắt đầu trở nên tức giận đến mức muốn làm một điều gì đó thật liều lĩnh. Nhảy ra khỏi cửa sổ sẽ là một bài tập thể dục rất đáng khen, nhưng những song sắt quá chắc chắn để tôi có thể thử làm việc đó.

Hơn nữa tôi sẽ không làm vậy. Tất nhiên là không. Tôi biết thừa rằng hành động như thế là không đúng mực và có thể bị hiểu lầm.

Tôi thậm chí còn không thích nhìn ra ngoài cửa sổ nữa. Có quá nhiều những người phụ nữ đang bò trườn ngoài kia, và họ bò nhanh quá.

Tôi tự hỏi liệu có phải tất cả bọn họ đều chui ra từ tấm giấy dán tường đó như tôi?

Nhưng bây giờ tôi đã được buộc chặt một cách an toàn bằng sợi dây thừng được giấu kỹ càng của mình. Không đời nào các người đưa được tôi ra ngoài con đường kia đâu!

Tôi đoán rằng khi đêm xuống, tôi sẽ phải chui tuột trở lại phía sau lớp hoa văn ấy, và điều đó thật khó chịu!

Thật dễ chịu làm sao khi được ở đây, trong căn phòng rộng lớn này. Tôi có thể bò trườn xung quanh theo ý muốn của mình!

Tôi không muốn ra ngoài kia. Tôi sẽ không đi, ngay cả khi Jennie có bảo tôi phải làm vậy.

Vì ở ngoài kia, người ta phải bò trườn trên mặt đất, và mọi thứ đều là màu xanh lục thay vì màu vàng.

Nhưng ở trong này, tôi có thể bò trườn một cách trơn tru trên sàn, và bờ vai tôi vừa khít với cái vệt ố dài chạy quanh bức tường kia, thế nên tôi không thể nào bị lạc lối được.

Kìa, John đang ở cửa!

“Vô ích thôi, chàng trai trẻ ạ, anh không mở được nó đâu!”

Anh ta đập cửa và gào gọi dữ dội làm sao!

Giờ thì anh ta đang gào lên đòi một cây rìu.

Thật là một sự bỉ ổi khi phá nát cánh cửa đẹp đẽ kia!

“John yêu dấu!” tôi nói bằng giọng dịu dàng nhất có thể, “chìa khóa ở ngay dưới bậc thềm phía trước, dưới một chiếc lá mã đề!”

Anh ta im lặng trong vài phút.

Rồi anh ta nói, rất bình tĩnh, “Mở cửa ra đi, em yêu!”

“Em không thể,” tôi nói. “Chìa khóa đang ở dưới bậc cửa trước, dưới một chiếc lá mã đề!”

Và rồi tôi lại lặp lại điều đó, vài lần, rất nhẹ nhàng và chậm rãi, và nói nhiều đến mức anh ta buộc phải đi kiểm tra, và tất nhiên anh ta tìm thấy nó rồi và bước vào. Anh ta đứng khựng lại ngay cạnh cửa.

“Có chuyện gì vậy?” anh ta kêu lên. “Trời ơi, em đang làm gì thế này!”

Tôi vẫn tiếp tục bò trườn như cũ, nhưng tôi ngoảnh đầu nhìn anh ta qua vai.

“Cuối cùng tôi cũng thoát được ra ngoài rồi,” tôi nói, “bất kể anh và Jane có muốn hay không! Và tôi đã xé sạch gần hết tấm giấy dán tường rồi, nên các người không thể nhốt tôi trở lại được nữa đâu!”

Tại sao người đàn ông ấy lại ngất xỉu nhỉ? Nhưng anh ta đã ngất thật, và ngã vật ra ngay chính giữa lối bò của tôi dọc theo bức tường, thế là cứ mỗi một vòng tôi lại phải bò trườn qua người anh ta.