Đầu tháng này tôi bắt đầu trò chuyện lại với Huy Trần, cũng không hẳn là “nói chuyện lại”, mà là nối tiếp những câu chuyện văn chương dang dở mà tôi đã bỏ lửng trong hơn một năm qua. Rồi tôi nhận ra từ rất lâu rồi tôi đã bỏ bê thứ mà tôi đã từng say mê như thế nào. Hơn một năm trời tôi sống như một cái bóng mờ nhạt, đôi lúc nhìn vào gương tôi lại thấy bản thân mình thật xa lạ. Vẫn là những câu hỏi về nhân dạng liên tục chạy trong đầu. Và như thường lệ, câu trả lời lại dần dần hiện ra khi tôi ngồi xuống bàn để đọc và dịch và viết, chẳng vì mục đích gì, chỉ đơn giản đọc và dịch và viết như một sở thích thuần tuý bấy lâu nay.

Cảm ơn Huy Trần vì đã gợi ý Thank You for the Light – một truyện cực ngắn, mà có vẻ ít được nhắc tới của F. Scott Fitzgerald. Đây là truyện ngắn dài bốn trang, được nhà văn viết xong trong năm 1936, nhưng nó đã bị New Yorker từ chối cho đăng vì đề cập đến chủ đề tôn giáo. Đến tháng 6/2012, cháu gái của Fitzgerald tìm thấy bản thảo của truyện ngắn và đã gửi lại cho tờ New Yorker, và ban biên tập dã dành một chỗ trang trọng trên mặt báo để ra mắt tác phẩm đã bị quên lãng trong suốt 76 năm qua.

Tôi đọc lướt vào một đêm sau khi dạy bốn ca liên tục cả ngày, rồi đọc kĩ hơn từng câu từng chữ vào hai ngày sau. Chỉ khi đó tôi mới nhận ra cô Hanson có nét gì đó giống mình như lời Huy Trần mô tả. Tôi cũng không chắc, chỉ biết là có một sự thôi thúc mơ hồ khiến tôi không thể ngủ được vào đêm nay và bật dậy để dịch xong truyện này cho bằng được. Hình như hồi tôi dịch bài Entre irse y quedarse của Octavio Paz cũng là vào khoảng 1 giờ sáng như hôm nay.

Mời mọi người cùng đọc qua.

**********************************************

Cô Hanson là một người phụ nữ xinh đẹp, tuy đã qua thì xuân sắc, đang ở độ tuổi khoảng bốn mươi, làm nghề bán áo nịt ngực và đai nịt bụng, thường xuyên rong ruổi các chuyến công tác từ Chicago. Suốt nhiều năm, khu vực cô phụ trách trải dài từ Toledo, Lima, Springfield, Columbus, Indianapolis cho đến Fort Wayne; việc được điều sang khu vực Iowa–Kansas–Missouri là một sự thăng tiến, vì công ty của cô có vị thế vững chắc hơn ở phía tây sông Ohio.

Ở miền Đông, cô quen biết khách hàng một cách thân tình và thường được mời cốc rượu hoặc điếu thuốc trong văn phòng của họ sau khi xong việc. Nhưng chẳng bao lâu cô nhận ra rằng ở khu vực mới, mọi thứ khác hẳn. Không những cô không bao giờ được hỏi có muốn hút thuốc hay không, mà đôi lần chính khi cô dè dặt hỏi xem có ai phiền không, câu trả lời lại mang vẻ áy náy:

“Không phải là tôi phiền, nhưng nó ảnh hưởng xấu đến nhân viên.”

“Ồ, dĩ nhiên, tôi hiểu.”

Thuốc lá mang một ý nghĩa rất lớn đối với cô. Cô làm việc cật lực, và nó có khả năng đem lại cho cô sự nghỉ ngơi, một sự thư giãn về mặt tinh thần. Là một goá phụ, buổi tối cô không có người thân ruột thịt nào để viết thư, mà xem phim quá một lần mỗi tuần thì mắt cô mỏi mệt, nên thuốc lá dần trở thành một dấu chấm câu cần thiết trong câu dài lê thê của những ngày rong ruổi.

Tuần cuối cùng của chuyến đi đầu tiên trên tuyến mới đưa cô đến Kansas City. Đó là giữa tháng Tám, và cô cảm thấy hơi cô đơn giữa vô số mối quan hệ mới trong hai tuần qua. Vì thế, cô vô cùng vui mừng khi gặp lại một người phụ nữ mà cô quen ở Chicago tại bàn lễ tân bên ngoài của một công ty. Cô ngồi lại một lát, chưa vội nhờ báo danh, và trong lúc trò chuyện đã hỏi thăm được đôi chút về người đàn ông mà mình sắp được gặp.

“Ông ấy có phiền nếu tôi hút thuốc không?”

“Gì cơ? Trời ơi, có chứ!” người bạn nói. “Ông ấy còn quyên tiền để ủng hộ luật cấm hút thuốc mà.”

“Ồ. Thế thì tôi biết ơn lời khuyên này—thật sự rất biết ơn.”

“Tốt nhất là chị nên cẩn thận ở khắp vùng này,” người bạn nói. “Nhất là với đàn ông trên năm mươi. Những người không đi lính thời chiến. Có người từng nói với tôi rằng chẳng ai từng ở trong chiến tranh lại phản đối chuyện người khác hút thuốc.”

Nhưng ngay tại điểm dừng kế tiếp, cô Hanson đã gặp một ngoại lệ. Anh ta trông là một người trẻ dễ mến, nhưng ánh mắt lại dán chặt vào điếu thuốc cô đang gõ vào móng tay, với vẻ say mê khó giấu đến mức cô cất nó đi. Phần thưởng cho sự kiềm chế ấy là lời mời ăn trưa, và trong một giờ đồng hồ đó cô nhận được một đơn đặt hàng đáng kể.

Sau đó, anh ta còn khăng khăng đưa cô đến cuộc hẹn kế tiếp, dù cô đã định tìm một khách sạn gần đó để lén hút vài hơi trong phòng rửa tay.

Đó là một trong những ngày dài dằng dặc của sự chờ đợi—ai cũng bận, ai cũng muộn, và khi họ xuất hiện thì hoặc là những người đàn ông mặt mày sắc lạnh, không ưa nổi sự hưởng thụ riêng tư của kẻ khác, hoặc là những người đàn bà, tự nguyện hay miễn cưỡng, gắn mình vào quan điểm của chính những người đàn ông ấy.

Cô chưa hút thuốc từ bữa sáng, và bỗng nhận ra rằng đó chính là lý do khiến cô cảm thấy một nỗi không thỏa mãn mơ hồ sau mỗi cuộc gặp, dù về mặt làm ăn có thành công đến đâu.

Ngoài miệng, cô nói:

“Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi hoạt động trong một lĩnh vực khác. Tất nhiên tất cả đều là cao su và vải bố, nhưng chúng tôi biết cách kết hợp chúng theo một cách riêng. Việc tăng ba mươi phần trăm quảng cáo trên toàn quốc chỉ trong một năm tự nó đã nói lên tất cả.”

Nhưng trong đầu, cô lại nghĩ:

“Chỉ cần ba hơi thôi là mình có thể bán được cả loại nịt bằng xương cá voi kiểu cũ.”

Bây giờ cô chỉ còn một cửa hàng nữa phải ghé, nhưng cuộc hẹn còn nửa tiếng nữa mới đến. Chừng ấy thời gian đủ để quay về khách sạn, nhưng vì không thấy taxi đâu, cô đi bộ dọc theo phố, vừa đi vừa nghĩ:

“Có lẽ mình nên bỏ thuốc. Mình bắt đầu giống một con nghiện rồi.”

Trước mặt cô là nhà thờ chính tòa Công giáo. Nó trông rất cao—và đột nhiên cô nảy ra một ý nghĩ: nếu bao nhiêu hương trầm đã bay lên Thiên Chúa từ những tháp cao kia, thì một chút khói thuốc trong tiền sảnh chắc chẳng khác gì. Chẳng lẽ Chúa nhân lành lại bận tâm nếu một người phụ nữ mệt mỏi hút vài hơi trong tiền sảnh?

Tuy vậy, dù không phải là người Công giáo, ý nghĩ ấy vẫn làm cô thấy áy náy. Dường như chuyện có hút thuốc hay không không còn quan trọng nữa, bởi nó có thể làm phật lòng rất nhiều người khác.

Nhưng mà—Ngài sẽ không phiền đâu, cô nghĩ một cách dai dẳng. Thời của Ngài, người ta còn chưa phát hiện ra thuốc lá…

Cô bước vào nhà thờ; tiền sảnh tối om, cô lần tìm một que diêm trong túi xách nhưng không có.

“Mình sẽ xin lửa từ một ngọn nến trong này,” cô nghĩ.

Bóng tối trong gian chính chỉ bị xé rách bởi một vệt sáng hắt lên ở góc nhà thờ. Cô đi dọc lối giữa hướng về mảng trắng mờ ấy, rồi nhận ra rằng nó không phải do nến tạo ra, và dù sao thì nó cũng sắp tắt—một ông lão đang chuẩn bị dập chiếc đèn dầu cuối cùng.

“Đây là đèn dâng lễ,” ông nói. “Ban đêm chúng tôi tắt chúng đi. Chúng nổi trong dầu, và chúng tôi nghĩ rằng với những người dâng đèn, việc để dành chúng cho ngày hôm sau còn có ý nghĩa hơn là để chúng cháy suốt đêm.”

“Tôi hiểu.”

Ông dập nốt chiếc đèn cuối cùng. Giờ đây trong nhà thờ chỉ còn ánh sáng từ chiếc đèn chùm điện cao phía trên và ngọn đèn vĩnh cửu trước Thánh Thể.

“Chúc chị ngủ ngon,” người quản giáo nói.

“Chúc ông ngủ ngon.”

“Tôi đoán chị đến đây để cầu nguyện.”

“Vâng, đúng vậy.”

Ông đi vào phòng thánh. Cô Hanson quỳ xuống và cầu nguyện.

Đã lâu lắm rồi cô mới cầu nguyện. Cô hầu như không biết nên cầu xin điều gì, nên cô cầu cho công ty của mình, cho các khách hàng ở Des Moines và Kansas City. Khi xong, cô nhổm người lên. Cô không quen cầu nguyện. Tượng Đức Mẹ từ một hốc tường, cao hơn đầu cô khoảng sáu feet, nhìn xuống.

Cô nhìn pho tượng một cách mơ hồ. Rồi cô đứng dậy, mệt mỏi ngả vào góc ghế dài. Trong trí tưởng tượng, Đức Trinh Nữ bước xuống, như trong vở kịch Phép Màu, và thay cô bán áo nịt ngực và đai nịt bụng, và cũng mệt nhoài như cô vậy. Rồi trong vài phút, hẳn là cô Hanson đã thiếp đi…

…Cô choàng tỉnh với cảm giác rằng có điều gì đó đã đổi khác, và dần dần cô nhận ra trong không khí có một mùi quen thuộc, không phải mùi hương trầm, và các ngón tay cô râm ran. Rồi cô nhận ra rằng điếu thuốc cô cầm trong tay đã được châm lửa—nó đang cháy.

Vẫn còn ngái ngủ đến mức chưa kịp suy nghĩ, cô hít một hơi để giữ cho ánh lửa khỏi tắt. Rồi cô ngước nhìn lên hốc tường mờ ảo của Đức Mẹ trong ánh sáng lưng chừng.

“Cảm ơn vì ánh lửa,” cô nói.

Như thế vẫn chưa đủ, nên cô quỳ xuống, làn khói từ điếu thuốc xoắn lên giữa các ngón tay.

“Cảm ơn rất nhiều vì ánh lửa,” cô nói lại lần nữa.

-Hết-


Chào bạn,

Trước tiên, mình cảm ơn bạn đã ghé qua trang blog này.

Nếu bạn theo dõi mình từ những ngày đầu, chắc hẳn bạn biết rằng mình đã dịch khá nhiều thơ. Thực chất, trong thời gian ở ẩn gần 2 năm qua mình còn dịch kha khá văn xuôi, bao gồm rất nhiều truyện ngắn của Franz Kafka và Haruki Murakami, nhưng vì lý do tác quyền (các tác phẩm này không nằm trong public domain), mình chỉ có thể giữ riêng và chia sẻ cho bạn bè thân thiết đọc, không thể đăng công khai, thậm chí là đăng lên Drive.

Riêng các tác phẩm mình dịch lần này đều đã được mình chọn lọc và xem xét kỹ, nguồn dịch mình lấy từ Project Gutenberg, tức là đều đã nằm trong public domain, thậm chí đối với các tác phẩm dịch từ tiếng Pháp, chẳng hạn như Clair de Lune của Guy De Maupassant, mình cũng chọn bản dịch tiếng Anh của nhóm dịch giả Albert M. C. McMaster & A. E. Henderson để đảm bảo không vi phạm bản quyền và tôn trọng chất xám của các cây bút.

Về chất lượng, mình không dám tự nhận là mình dịch hay, nhưng nếu bạn thấy hợp gu với văn phong của mình và gặp khó khăn trong việc đọc bản tiếng Anh hay không thể tìm được bản dịch tiếng Việt, bạn hãy thử cho những bản dịch của mình một cơ hội nhé.

Đây là một dự án rất dài hơi của mình, và mình dự định sẽ dịch cho đến khi nào còn có thể, đồng thời nuôi tham vọng một ngày nào đó sẽ có tác phẩm mình dịch được xuất bản tại Việt Nam, nên nếu có lòng bạn có thể hỗ trợ mình tuỳ tâm. Mình xin phép gửi thông tin stk bên dưới nhé:

TECHCOMBANK

19032875639013

Người nhận: TRAN THI KY DUYEN

Cảm ơn các bạn đã quan tâm và theo dõi mình trong thời gian qua ‪‪❤︎‬

Leave a comment

Read more